Nham-thin-2012

Thứ hai, 06/02/12 | 03:50 AM

Cập nhật:01:12:55 AM GMT

Bạn đang xem Dinh dưỡng và sức khỏe Chế độ ăn cho bà mẹ trong thai kỳ và cho con bú

Chế độ ăn cho bà mẹ trong thai kỳ và cho con bú

Nuôi con khỏe mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn của mỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đất nước.

Muốn con khỏe mạnh, mỗi người mẹ cần phải biết chăm sóc súc khỏe của mình, đặc biệt trong thời kỳ có thai, cho con bú - vì sức khỏe, bệnh tật của người mẹ trong thời kỳ này đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và sức khỏe của đứa con trong bụng hay đang được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ...

Trước hết, để có một gia đình hạnh phúc, cần thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Nuôi được một đứa con nên người rất công phu, tốn kém, cho nên phải tính toán cân nhắc kỹ trước khi định có con. Trong tình hình kinh tế chung hiện nay, mỗi cặp vợ chống chỉ nên có từ 1 đến 2 con. Không nên có con quá sớm, trước 22 tuổi, vì lúc này cơ thể người mẹ chưa phát triển đầy đủ, cơ quan sinh dục và các tuyến nội tiết chưa hoàn thiện. Không nên sinh con quá muộn sau 35 tuổi, vì đẻ muộn, khung xương chậu, các dây chằng cứng khó dãn nở, dẫn đến nguy cơ đẻ khó. Tốt nhất nên đẻ ở lứa tuổi 25 đến 30 tuổi và khoảng cách mỗi lần sinh tối thiểu là 3 năm.

CHĂM SóC Người Mẹ

Chăm sóc người phụ nữ khi có thai nghén nhằm đảm bảo một cuộc thai nghén bình thường và sinh đẻ an toàn cho cả mẹ lẫn con. Vì thế, khi có thai người mẹ cần đến trạm Y tế hoặc Nhà hộ sinh đăng ký quản lý thai, để được nhân viên Y tế khám và theo dõi. Mỗi người mẹ đều có phiếu khám thai hoặc phiếu theo dõi sức khoẻ tại nhà.

Bắt đầu có thai , một số người mẹ thường cảm thấy mệt mỏi, chán ăn, hay có cảm giác buồn nôn hoặc thèm ăn những thức ăn theo sở thích riêng của từng người. Các hiện tượng đó chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, sau đó người mẹ cần chăm lo ăn uống hợp lý và giữ gìn sức khoẻ để thai phát triển bình thường.

Để theo dõi sự phát triển của thai, người mẹ nên thực hiện việc khám thai định kỳ ít nhất 3 lần trong suốt thời kỳ thai nghén. Lần thứ nhất vào 3 tháng đầu để xác định chắc chắn có thai hay không, lần thứ hai vào 3 tháng giữa để xem thêm khỏe hay yếu để có kế hoạch bồi dưỡng cho người mẹ kịp thời, lần thứ ba vào 3 tháng cuối để xem thai có phát triển bình thường không, thuận hay ngược, tiên lượng cuộc đẻ và dự kiến ngày sinh.

Nếu khám thai được nhiều lần hơn càng tốt, nhất là 3 tháng cuối, mỗi tháng nên khám một lần. Khi khám thai, người mẹ cần được khám toàn thân: đo chiều cao, cân nặng, đếm mạch, nghe tim phổi, đo huyết áp, thử nước tiểu, phát hiện các yếu tố bất thường như tăng huyết áp, Protein niệu, da xanh xao thiếu máu (nhìn niêm mạc môi, mắt), phụ nề (ấn vào mắt cá chân) và các bệnh mạn tính như tim, gan, thận... Khám sản khoa: đo chiều cao tử cung, vòng bụng, nghe tim thai. Đề phòng bệnh uốn ván cho con, người mẹ khi có thai cần được tiêm phòng uốn ván, tiêm 2 lần: Mũi thứ nhất vào tháng thứ 4 hoặc thứ 6, mũi thứ hai cách mũi thứ nhất 1 tháng và trước khi đẻ ít nhất nửa tháng.

Trong thời kỳ có thai, nhất là ở các tháng cuối, do thai chèn ép vào các mạch máu lớn của ổ bụng, có thể có hiện tượng “xuống máu chân”, phù nhẹ ở chân. Nếu thấy phù toàn thân kèm nhức đầu, mờ mắt thì có thể do nhiễm độc thai nghén, phải đi khám, thử nước tiểu, đo huyết áp, hạn chế ăn muối. Thường xuyên đi khám để tránh tai biến khi đẻ.

Khi có thai, cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc, tiêm chủng, chiếu chụp điện vì rất dễ gây rối loạn phát triển thai. Thí dụ, khi mới có  thai, dùng vitamin A liều cao có thể làm thai phát triển không bình thường; dùng kháng sinh streptomyxin có thể làm trẻ bị điếc ngay từ khi đẻ.

Một số thuốc nội tiết, an thần có thể gây sảy thai, thai chết, rối loạn phát triển thai hoặc bị bệnh sau khi đẻ. Do đó khi cần dùng thuốc, phải hỏi ý kiến thầy thuốc. Chế độ lao động, nghỉ ngơi hợp lý, tinh thần thoải mái của người mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nên lao động chân tay và trí óc một cách điều độ, tránh lao động mệt nhọc quá sức. Quan niệm “chửa con so, làm cho láng giềng” để thai không quá to, dễ đẻ là không đúng. Vào tháng cuối, người mẹ cần được nghỉ ngơi để có thời gian chuẩn bị cho con, cho mẹ, có sức khoẻ tốt, tránh được tai biến khi đẻ.

chế Độ ĂN UốNG CủA Người Mẹ

Chế độ ăn uống của người mẹ có vai trò quan trọng quyết định đối với sự phát triển của thai nhi. Người mẹ cần nhớ rằng phải ăn uống cho mình và cho cả con trong bụng. Nếu người mẹ được ăn uống tốt, đầy đủ các chất dinh dưỡng thì người mẹ sẽ lên cân tốt. Trong suốt thời kỳ có thai, người mẹ cần tăng được từ 10-12kg (trong đó, 3 tháng đầu tăng 4-5 kg, 3 tháng giữa tăng 4 - 5 kg, 3 tháng cuối tăng 5 - 6 kg). Tăng cân tốt, người mẹ sẽ tích lũy mỡ là nguồn dự trữ để tạo sữa sau khi sinh. Những trường hợp người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý chính là nguyên nhân của suy dinh dưỡng trong bào thai, trẻ đẻ ra có cân nặng thấp dưới 2500g.

Người phụ nữ khi có thai, theo tiêu chuẩn quốc tế (FAO) sẽ tăng trung bình 12,5kg, trong đó 4kg là mỡ, tương đương 36000 Kcal. Đó là nguồn dự trữ để sản xuất sữa. Không tăng đủ cân trong quá trình thai nghén sẽ tăng nguy cơ làm mẹ suy kiệt, cân nặng sơ sinh lúc đẻ thấp và tỷ lệ tử vong cao.

1. Nhu cầu dinh dưỡng

Khi có thai, nuôi con bú, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi cao hơn ở mức bình thường - vì ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạt động của cơ thể, sự thay đổi về sinh lý của người mẹ như biến đổi về chuyển hoá, tích luỹ mỡ, tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú..., còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và tạo sữa cho con bú.

1.1. Năng lượng: Dựa theo nhu cầu, của người mẹ có thai, nuôi con bú, người ta khuyến nghị ở thời kỳ 6 tháng cuối, nhu cầu năng lượng là 2550 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng tăng thêm hơn người bình thường mỗi ngày là 350Kcal. Để đạt được mức tăng này, người mẹ cần ăn thêm tương đương 1 - 2 bát cơm. Đối với người mẹ nuôi con bú, năng lượng cung cấp tỷ lệ thuận với lượng sữa sản xuất, nhưng nói chung, ở thời kỳ nuôi con 6 tháng đầu, năng lượng cần đạt được 2750 Kcal/ngày, như vậy, năng lượng cần tăng thêm là 550 Kcal/ngày (tương đương 3 bát cơm/ngày).

Người ta thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa năng lượng trong khẩu phần, mức tăng cân của mẹ và cân nặng trẻ sơ sinh. Khi năng lượng của khẩu phần thấp, làm cho mức tăng cân của mẹ cũng thấp, kéo theo cân nặng sơ sinh cũng thấp. Theo một số nghiên cứu, thực tế năng lượng trong khẩu phần của phụ nữ có thai và cho con bú ở nước ta chưa đạt theo nhu cầu đề nghị. Ở thời kỳ mang thai 3 tháng cuối, năng lượng khẩu phần mới đạt khoảng 2000Kcal (chỉ đạt 78% nhu cầu); ở thời kỳ 6 tháng đầu cho con bú, năng lượng khẩu phần khoảng 2100 kcal, đạt 76% nhu cầu cần thiết cho người mẹ trong thời kỳ này.

1.2. Protein: Khi mang thai, nhu cầu protein ở người mẹ tăng lên, một phần để tổng hợp protein cho cơ thể mẹ như tăng lượng máu, tử cung và vú, đồng thời còn phải cung cấp protein cho thai nhi và nhau thai hình thành và phát triển. Lượng protein trong khẩu phần người mẹ có thai là 70g/ngày, còn đối với bà mẹ cho con bú cần cao hơn 83g/ngày.

1.3. Vitamin, chất khoáng và các yếu tố vi lượng: Trong khi có thai cũng như nuôi con bú với khẩu phần ăn cân đối sẽ đảm bảo cung cấp vitamin, các chất khoáng và các yếu tố vi lượng. Trong thời kỳ có thai, người mẹ nên ăn các loại thức ăn có nhiều vitamin C như rau, quả, các loại thức ăn có nhiều calci, phosphor (cá, cua, tôm, sữa,...) để giúp cho sự tạo xương của thai nhi. Các thức ăn có nhiều sắt như thịt, trứng, các loại đậu đỗ... để đề phòng thiếu máu

Khi cho con bú, đề phòng khô mắt do thiếu vitamin A, người ta khuyên người mẹ nên ăn các thức ăn có nhiều protein và vitamin như trứng, sữa, cá, thịt, đậu đỗ và các loại rau, quả có nhiều caroten (tiền vitamin A) như rau muống, rau ngót, rau dền, đu đủ, gấc, xoài...

Ngoài ra nên cho người mẹ trong vòng 1 tháng đầu sau khi sinh uống 1 liều vitamin A 200.000 đơn vị để đủ vitamin A trong sữa cho con bú 6 tháng đầu.

2. Chế độ ăn

Trong thời kỳ có thai, nuôi con bú, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng tới sức khoẻ của cả mẹ lẫn con. Trong chế độ ăn, người mẹ không nên kiêng khem, nhưng cũng cần chú ý một số vấn đề trong ăn uống như:

- Không nên dùng các loại có chất kích thích như rượu, cà phê, thuốc lá, nước chè đặc...

- Giảm ăn các loại gia vị như ớt, hạt tiêu, tỏi, giấm.

Trong khi có thai và cho con bú, người mẹ phải ăn nhiều hơn bình thường.

Trước hết, bữa ăn cần cung cấp đủ năng lượng (nguồn năng lượng trong bữa ăn ở nước ta chủ yếu dựa vào lương thực như gạo, ngô, mỳ...). Các loại khoai củ cũng là nguồn năng lượng, nhưng ít chất đạm, do đó chỉ nên ăn trộn, không ăn trừ bữa. Gạo nên chọn loại gạo tốt, không xay xát quá trắng (vì sẽ mất nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin B1, chống bệnh tê phù). Trong bữa ăn cần cung cấp đủ chất đạm, vì chất đạm cần cho thai phát triển, mẹ đủ sữa. Các loại thức ăn động vật như thịt, cá, trứng, sữa có nhiều chất đạm quý. Nhiều loại thức ăn thực vật cũng giàu chất đạm, đó là các loại họ đậu (đậu tương, đậu xanh, đậu đen), lạc hạt, vừng. Khi có điều kiện, bữa ăn hàng ngày nên có thêm thịt, cá, nếu không cũng có thêm đậu, lạc. Trong 3 tháng cuối, mỗi ngày nên có thêm 1 quả trứng.

Các thức ăn như đậu tương, lạc, vừng và dầu mỡ còn cung cấp cho cơ thể chất béo, làm bữa ăn ngon miệng, chóng tăng cân và dễ hấp thu các chất dinh dưỡng khác.

Hàng ngày, bữa ăn của phụ nữ có thai và cho con bú không thể thiếu rau xanh là thức ăn có nhiều vitamin và chất khoáng. Các loại rau phổ biến ở nước ta như rau ngót, rau muống, rau dền, xà lách..., có nhiều vitamin C và caroten. Các loại quả chín như chuối, đu đủ, cam, xoài,v.v… cũng rất cần thiết cho bà mẹ. Nếu có điều kiện, nên ăn thêm quả hàng ngày.

Trong thời gian có thai, cho con bú, nếu người mẹ được sự quan tâm, chăm sóc của gia đình và xã hội, được sự theo dõi đầy đủ của nhân viên y tế, đó là nguồn động viên giúp họ yên tâm, phấn khởi, tin tưởng sinh đẻ được “mẹ tròn con vuông” và nuôi con bú nhiều sữa, con còi sẽ khoẻ mạnh, ít ốm đau, bệnh tật...

Phòng chống thiếu máu dinh dưỡng khi có thai

Thiếu máu là bệnh dinh dưỡng hay gặp ở phụ nữ có thai, đặc biệt là ở những người đẻ dày và ăn uống thiếu thốn. Hiện nay có 32% phụ nữ có thai bị thiếu máu (hàm lượng hemoglobin trong máu thấp dưới 11g/100ml). Bệnh thiếu máu có ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khoẻ cả mẹ lẫn con.

Người mẹ thiếu máu thường mệt mỏi, chóng mặt, khó thở khi gắng sức, khi đẻ có nhiều rủi ro. Tỷ lệ tử vong khi đẻ ở những người mẹ thiếu máu cao hơn hẳn ở bà mẹ bình thường. Do đó người ta đó coi thiếu máu là một yếu tố đe dọa sản khoa.

Thiếu máu thường gây tình trạng đẻ non và tử vong sơ sinh cao. Thiếu máu dinh dưỡng ở trẻ sơ sinh thường là do mẹ bị thiếu sắt nên lượng sắt dự trữ của cơ thể trẻ thấp.

Người mẹ có thai cần được theo dõi các biểu hiện thiếu máu, tốt nhất là thử máu cùng với khám thai chậm nhất vào tháng thứ 4 sau khi có thai. Các biểu hiện của thiếu máu là khó thở khi chỉ hơi gắng sức, chóng mặt, hoa mắt, da xanh, niêm mạc nhợt nhạt (nhìn vào môi hoặc lật mí mắt).

Ăn uống hợp lý là biện pháp phòng chống bệnh thiếu máu tốt nhất. Ngoài các nguyên tắc đó nêu ở trên, nên chú ý các thức ăn có nhiều chất sắt, đó là các loại đậu đỗ, các loại rau xanh (rau ngót, rau dền, rau khoai, rau bí,...), các loại phủ tạng (tim, gan, cật...); đồng thời cũng tăng cường khả năng hấp thu sắt nhờ tăng lượng vitamin C có từ rau quả (việc hấp thụ sắt tỷ lệ  thuận  với lượng vitamin C trong khẩu phần).

Ngay từ khi bắt đầu có thai, tất cả các bà mẹ nên uống viên sắt. Với loại viên có hàm lượng là 60mg sắt nguyên tố, ngày uống 1 viên trước khi ngủ. Uống liên tục trong suốt thời kỳ có thai đến 1 tháng sau khi sinh. Để tăng quá trình chuyển hóa và hấp thu sắt, cần ăn đủ rau xanh và quả chín.

Hiện nay nhà nước thực hiện chương trình phân phối viên sắt tới tuyến Xã. Màng lưới y tế cơ sở cần cung cấp thuốc đến tận tay những người mẹ và nhắc nhở họ uống đều, đủ liều theo quy định.

THÚY MAI (theo tài liệu của Viện Dinh dưỡng)